<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>ngn.thu.trang@gmail.com &#8211; CREATA</title>
	<atom:link href="https://creata.org.vn/author/ngn-thu-tranggmail-com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://creata.org.vn</link>
	<description>TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU VỀ LẠM DỤNG CHẤT – HIV</description>
	<lastBuildDate>Sun, 31 May 2020 05:51:21 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi-VN</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=5.3.18</generator>

<image>
	<url>https://creata.org.vn/wp-content/uploads/2019/09/favicon.png</url>
	<title>ngn.thu.trang@gmail.com &#8211; CREATA</title>
	<link>https://creata.org.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Tư vấn xét nghiệm định kỳ và điều trị ARV sớm cho người tiêm chích ma túy tại Việt Nam</title>
		<link>https://creata.org.vn/tu-van-xet-nghiem-dinh-ky-va-dieu-tri-arv-som-cho-nguoi-tiem-chich-ma-tuy-tai-viet-nam/</link>
				<comments>https://creata.org.vn/tu-van-xet-nghiem-dinh-ky-va-dieu-tri-arv-som-cho-nguoi-tiem-chich-ma-tuy-tai-viet-nam/#respond</comments>
				<pubDate>Mon, 10 Feb 2020 05:10:37 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[ngn.thu.trang@gmail.com]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Các dự án khác]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://creata.org.vn/?p=1517</guid>
				<description><![CDATA[Đơn vị tài trợ: Tổ chức Y tế Thế giới Ý tưởng nghiên cứu ra đời trong bối cảnh nhiều bằng chứng nghiên cứu trên thế giới khẳng định điều trị thuốc kháng virus (ARV) là biện pháp dự phòng giảm nguy cơ lây nhiễm HIV (TasP) bằng cách ức chế sự nhân lên của virus.&#160; Tại Việt Nam, chương]]></description>
								<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Đơn vị tài trợ: Tổ chức Y tế Thế giới </strong></p>



<p>Ý tưởng nghiên cứu ra đời trong bối cảnh nhiều bằng chứng nghiên cứu trên thế giới khẳng định điều trị thuốc kháng virus (ARV) là biện pháp dự phòng giảm nguy cơ lây nhiễm HIV (TasP) bằng cách ức chế sự nhân lên của virus.&nbsp; Tại Việt Nam, chương trình điều trị ARV đã bắt đầu từ những năm 2005 và nhanh chóng mở rộng dịch vụ điều trị ra các tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên, theo thống kê khoảng một nửa số người bắt đầu điều trị ARV muộn với số lượng CD4 dưới 100 tế bào/mm<sup>3</sup>. Một nghiên cứu mô hình toán học sử dụng dữ liệu Việt Nam đã báo cáo rằng ưu tiên điều trị ARV ngay sau khi phát hiện (với bất kỳ số lượng tế bào CD4) trong nhóm tiêm chích ma túy (TCMT) và nhóm có nguy cơ cao với HIV là một yếu tố quan trong có thể làm giảm đáng kể nhiễm HIV mới và tử vong do AIDS. </p>



<p><strong>Mục
tiêu nghiên cứu này</strong> nhằm đánh giá tính khả
thi và sự chấp nhận trong việc cung cấp tư vấn và xét nghiệm HIV thường xuyên
trong nhóm người TCMT, và điều trị ARV không phụ thuộc vào số lượng CD4 trong
quần thể TCMT nhiễm HIV với các mục tiêu chính như sau: </p>



<ol><li>Ước
tính tỷ lệ đạt ức chế virus sau 12 tháng điều trị của nhóm bệnh nhân TCMT nhiễm
HIV bắt đầu điều trị ARV mà không quan tâm đến số tế bào CD4.</li><li>Đánh
giá tác động của việc điều trị ARV sớm lên mô hình phân tầng chăm sóc HIV cho
người TCMT nhiễm HIV, đặc biệt trong việc liên kết từ chuẩn đoán, đăng kí chăm
sóc đến điều trị.</li><li>Đánh
giá tính khả thi và mức độ chấp nhận đối với tư vấn xét nghiệm định kỳ và điều
trị ARV sớm. </li></ol>



<p>Nghiên cứu được thực hiện tại 6 phòng
khám điều trị HIV ngoại trú tại Thái Nguyên và 7 phòng khám ngoại trú tại Thanh
Hóa từ tháng 4/2014 đến 7/2015. Nghiên cứu này là sự hợp tác giữa Trung tâm
nghiên cứu lạm dụng chất –HIV với Tổ chức Y tế thế giới, Cục phòng, chống
HIV/AIDS, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS
các tỉnh Thái Nguyên và Thanh Hóa. Kinh phí nghiên cứu do Tổ chức Y tế thế giới
tại Việt Nam tài trợ. </p>



<p><strong>Các
sản phẩm nổi bật của nghiên cứu</strong></p>



<ul><li>Bài trình bày tại Hội
nghị HIV/AIDS lần thứ 5</li><li>Bài trình bày tại Hội
nghị IAS (International AIDS Society) lần thứ 8 năm 2015</li><li>Bài trình bày tại Hội
nghị Y tế công cộng Việt Nam: thực trạng và định hướng tương lai: tháng 4/2016.
</li><li>Poster trình bày tại hội
nghị IAS lần thứ 9 năm 2017</li></ul>



<p>Một
bài báo đăng trên tạp chí Journal of the International AIDS Society (A prospective “test‐and‐treat” demonstration project
among people who inject drugs in Vietnam: <a href="https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/jia2.25151">https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/jia2.25151</a></p>
]]></content:encoded>
							<wfw:commentRss>https://creata.org.vn/tu-van-xet-nghiem-dinh-ky-va-dieu-tri-arv-som-cho-nguoi-tiem-chich-ma-tuy-tai-viet-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
							</item>
		<item>
		<title>Thí điểm can thiệp giảm sử dụng ATS</title>
		<link>https://creata.org.vn/thi-diem-can-thiep-giam-su-dung-ats/</link>
				<comments>https://creata.org.vn/thi-diem-can-thiep-giam-su-dung-ats/#respond</comments>
				<pubDate>Mon, 10 Feb 2020 02:05:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[ngn.thu.trang@gmail.com]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghiên cứu thí điểm can thiệp ATS]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://creata.org.vn/?p=1478</guid>
				<description><![CDATA[Đơn vị tài trợ: SAMHSA, CDC Nghiên cứu&#160;ra đời trong bối cảnh tình hình sử các chất kích thích dạng amphetamine (ATS) ngày càng phát triển và đang có nguy cơ ảnh hưởng đến thành quả của chương trình methadone và các chương trình điều trị HIV tại Việt Nam. Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là nhằm đánh]]></description>
								<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Đơn vị tài trợ: SAMHSA, CDC</strong></p>



<p><strong>N</strong><strong>ghiên cứu</strong>&nbsp;ra đời trong bối
cảnh tình hình sử các chất kích
thích dạng amphetamine (ATS) ngày càng phát triển và đang có nguy cơ ảnh hưởng
đến thành quả của chương trình methadone và các chương trình điều trị HIV tại
Việt Nam.</p>



<p><strong>Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu</strong><em> </em>là nhằm đánh giá tính khả thi khi triển khai mô hình can thiệp giảm sử dụng ATS trên bệnh nhân điều trị methadone có lạm dụng ATS.</p>



<p>Nhiều mô hình can thiệp được thí điểm trên bệnh nhân methadone từ các cơ sở điều trị ở Hà Nội và Thái Nguyên và trên người sử dụng ma túy ngoài cộng đồng trong hai năm 2018 và 2019. Trên 200 người tham gia phù hợp với tiêu chí của nghiên cứu đồng ý tham gia can thiệp và đạt được kết quả tích cực. Hiện nay nghiên cứu đã hoàn thành việc thu thập dữ liệu và đang trong giai đoạn phân tích, viết bài báo. </p>
]]></content:encoded>
							<wfw:commentRss>https://creata.org.vn/thi-diem-can-thiep-giam-su-dung-ats/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
							</item>
		<item>
		<title>So sánh hiệu quả của Suboxone và Methadone trên bệnh nhân HIV nghiện chất dạng thuốc phiện tại các cơ sở điều trị HIV ngoại trú ở Việt Nam</title>
		<link>https://creata.org.vn/so-sanh-hieu-qua-cua-suboxone-va-methadone-tren-benh-nhan-hiv-nghien-chat-dang-thuoc-phien-tai-cac-co-so-dieu-tri-hiv-ngoai-tru-o-viet-nam/</link>
				<comments>https://creata.org.vn/so-sanh-hieu-qua-cua-suboxone-va-methadone-tren-benh-nhan-hiv-nghien-chat-dang-thuoc-phien-tai-cac-co-so-dieu-tri-hiv-ngoai-tru-o-viet-nam/#respond</comments>
				<pubDate>Mon, 10 Feb 2020 01:58:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[ngn.thu.trang@gmail.com]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghiên cứu BRAVO]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://creata.org.vn/?p=1474</guid>
				<description><![CDATA[Mã số tài trợ: NIH R01DA037441 Nghiên cứu&#160;ra đời trong bối cảnh Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) khuyến cáo cần lồng ghép điều trị rối loạn sử dụng chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng methadone hoặc buprenorphine với chăm sóc HIV để cải thiện kết quả điều trị HIV, tuy nhiên, việc triển khai điều trị bằng buprenorphine]]></description>
								<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Mã số tài trợ: NIH R01DA037441</strong></p>



<p><strong>Nghiên
cứu</strong>&nbsp;ra
đời trong bối cảnh Tổ chức Y Tế Thế giới (WHO) khuyến cáo cần lồng
ghép điều trị rối loạn sử dụng chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng methadone hoặc
buprenorphine với chăm sóc HIV để cải thiện kết quả điều trị HIV, tuy nhiên,
việc triển khai điều trị bằng buprenorphine vẫn đang hạn chế ở nhiều quốc
gia.&nbsp;Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của việc lồng ghép điều trị
buprenorphine trên kết quả điều trị rối loạn sử dụng CDTP và HIV tại Việt Nam.</p>



<p><strong>Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu</strong><em> </em>là nhằm so sánh hiệu quả của hai biện pháp điều trị nghiện
CDTP– Suboxone và Methadone &#8211; lên mức độ tham gia điều trị và hiệu quả điều trị
HIV tại một số địa phương của Việt Nam.</p>



<p><strong>Mục
tiêu cụ thể của nghiên cứu:</strong></p>



<p>1.
Đánh giá tác động của điều trị BUP/NX tại cơ sở điều trị HIV ngoại trú
(n=225) so với chuyển gửi điều trị Methadone (n=225) lên mức độ tham gia và hiệu
quả điều trị HIV ở bệnh nhân nhiễm HIV nghiện chất dạng thuốc phiện.</p>



<p>2.
Đánh giá tác động của điều trị BUP/NX tại phòng khám so với chuyển gửi điều
trị Methadone lên việc sử dụng chất dạng thuốc phiện của bệnh nhân HIV nghiện
chất dạng thuốc phiện.</p>



<p>3.
Đánh giá kinh nghiệm triển khai điều trị BUP/NX tạo cơ sở cho việc mở rộng
điều trị BUP/NX tại cơ sở điều trị HIV ngoại trú toàn quốc.</p>



<p>Nghiên
cứu được thực hiện trong thời gian từ năm 2013 đến 2019 và triển khai tại địa
bàn Hà Nội, Bắc Giang, Thanh Hóa. Hiện nay nghiên cứu đã kết thúc giai đoạn thu
thập dữ liệu và đang trong giai đoạn phân tích số liệu, viết bài và xuất bản
các bài báo trong nước và quốc tế.</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
							<wfw:commentRss>https://creata.org.vn/so-sanh-hieu-qua-cua-suboxone-va-methadone-tren-benh-nhan-hiv-nghien-chat-dang-thuoc-phien-tai-cac-co-so-dieu-tri-hiv-ngoai-tru-o-viet-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
							</item>
		<item>
		<title>Nghiên cứu tương tác thuốc methadone và thuốc điều trị HIV (NVP/EFV) trên bệnh nhân nghiện chích ma túy nhiễm HIV bằng phương pháp dược động học quần thể</title>
		<link>https://creata.org.vn/nghien-cuu-tuong-tac-thuoc-methadone-va-thuoc-dieu-tri-hiv-nvp-efv-tren-benh-nhan-nghien-chich-ma-tuy-nhiem-hiv-bang-phuong-phap-duoc-dong-hoc-quan-the/</link>
				<comments>https://creata.org.vn/nghien-cuu-tuong-tac-thuoc-methadone-va-thuoc-dieu-tri-hiv-nvp-efv-tren-benh-nhan-nghien-chich-ma-tuy-nhiem-hiv-bang-phuong-phap-duoc-dong-hoc-quan-the/#respond</comments>
				<pubDate>Mon, 10 Feb 2020 01:55:44 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[ngn.thu.trang@gmail.com]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Nghiên cứu MAPS]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://creata.org.vn/?p=1470</guid>
				<description><![CDATA[Mã số tài trợ: NIH R01DA040510 Ý tưởng của nghiên cứu ra đời trong bối cảnh các bác sĩ chăm sóc cho bệnh nhân HIV cần một mô hình dược lý để dự đoán và xử trí tương tác thuốc giữa methadone và thuốc điều trị HIV (ART) nhóm ức chế men sao chép ngược không phải nucleoside (NNRTI). Các tương]]></description>
								<content:encoded><![CDATA[
<p><strong>Mã số tài trợ: NIH R01DA040510</strong></p>



<p><strong>Ý tưởng của nghiên cứu</strong> ra đời trong bối cảnh các bác sĩ chăm sóc cho bệnh nhân HIV cần một mô hình dược lý để dự đoán và xử trí tương tác thuốc giữa methadone và thuốc điều trị HIV (ART) nhóm ức chế men sao chép ngược không phải nucleoside (NNRTI). Các tương tác thuốc này thường làm cho tình trạng bệnh nhân không ổn định dẫn đến tăng sử dụng ma túy và các hành vi nguy cơ HIV. Mặc dù hội chứng cai chất dạng thuốc phiện (CDTP) do tương tác thuốc với nevirapine (NVP) và efavirenz (EFV), hai thuốc nhóm NNRTI phổ biến nhất trên thế giới, đã được mô tả, hiện không có nghiên cứu nào được thiết kế tốt về dược động học tương tác thuốc với NVP. Hiện chỉ có một nghiên cứu đối với EFV được thực hiện trên 12 người không nhiễm HIV và không điều trị methadone tình nguyện dùng 17 mg methadone tại thời điểm ban đầu và sau đó được theo dõi và dùng EFV trong 17 ngày.  Do vậy, dược động học của các tương tác này trên thực tế lâm sàng chưa được nghiên cứu.</p>



<p><strong>Mục tiêu chung của Nghiên cứu</strong> tương tác
thuốc methadone và thuốc điều trị HIV (NVP/EFV) trên bệnh nhân sử dụng ma túy
nhiễm HIV (Methadone Antiretroviral Pharmacokinetics Study &#8211; MAPS) là xây dựng
mô hình dược động học của methadone để cung cấp thông tin cho các bác sĩ lâm
sàng. Nghiên cứu MAPS sử dụng phương pháp dược động học quần thể để mô tả tương
tác thuốc giữa methadone và NVP/EFV.<strong></strong></p>



<p><strong>Mục
tiêu cụ thể của nghiên cứu:</strong></p>



<p><strong>1.
</strong>Sử dụng dược động học quần thể trong thực tế lâm sàng để
đánh giá sự khác biệt của nồng độ methadone (ví dụ, diện tích dưới đường cong của
nồng độ theo thời gian (AUC) và mối quan hệ giữa liều và độ thanh thải đường uống
(CL/F) giữa bệnh nhân điều trị NVP hoặc EFV và bệnh nhân không điều trị NVP hoặc
EFV.<strong></strong></p>



<p><strong>2.
</strong>Đánh giá sự ảnh hưởng của một số đa hình gen lên dược động
học methadone và tương tác giữa methadone và NVP/EFV.<strong></strong>

Nghiên cứu được thực hiện
từ năm 2015 đến 2020 và triển khai tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện nay nghiên cứu đã kết thúc giai đoạn thu thập dữ liệu và đang trong giai
đoạn phân tích số liệu, viết bài và xuất bản các bài báo trong nước và quốc tế.



</p>
]]></content:encoded>
							<wfw:commentRss>https://creata.org.vn/nghien-cuu-tuong-tac-thuoc-methadone-va-thuoc-dieu-tri-hiv-nvp-efv-tren-benh-nhan-nghien-chich-ma-tuy-nhiem-hiv-bang-phuong-phap-duoc-dong-hoc-quan-the/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
							</item>
	</channel>
</rss>
